Đang tải... Vui lòng chờ...
Chia sẻ với phụ huynh

Các hoạt động thú vị thúc đẩy kỹ năng nói của trẻ

Con bạn có hay “mở máy phát thanh” từ lúc mới ngủ dậy và chỉ chịu ngừng khi đi ngủ không? Hay cháu thuộc dạng người trầm lặng? Cho dù cháu nghiêng về khuynh hướng nào, bạn đều có thể giúp cháu trau dồi kỹ năng nói. Cháu sẽ học nói dễ dàng thông qua việc rèn luyện tập đọc và làm toán.

 

 

 



Bạn có thể giúp gì cho cháu? Đầu tiên, hãy lắng nghe cháu nói một cách năng động. Nghĩa là bạn không chỉ lắng nghe những gì cháu nói mà cần đặt câu hỏi cho cháu, đưa ra lời bình luận và quan tâm đến cuộc đối thoại mà trong đó cháu có rất nhiều cơ hội để bày tỏ suy nghĩ.
Sau đây là một số trò chơi và hoạt động mà bạn có thể dùng để giúp cháu phát triển kỹ năng nói chuyện:

Dành cho các cháu thiên về thính giác:
• Hãy nói chuyện với cháu bất cứ khi nào bạn ở bên cháu. Kể cho cháu nghe những mẫu chuyện thú vị bạn đọc trên báo hoặc những chuyện vui bạn có được trong ngày làm việc hôm đó. Hoặc khi đi mua sắm cùng với cháu hãy kể cho cháu nghe những lần bạn cùng mẹ đi chợ khi còn nhỏ như chúng bây giờ. Nhiều lúc bạn có cảm tưởng rằng trẻ không chú tâm đến câu chuyện bạn đang kể nhưng thật ra là có đấy và cũng đừng ngạc nhiên khi nghe con bạn lặp lại một điều gì bạn nói với một người khác. Và hãy nhớ rằng bắt chước là một cách học hỏi của trẻ nên hãy cẩn thận với lời nói của chính bạn.

• Hỏi cháu những câu hỏi mở. Ví dụ như khi bạn hỏi “Hôm nay con đã làm gì ở trường?”, bạn sẽ nghe cháu kể lại chi tiết hơn là khi bạn hỏi những câu hỏi có hay không như: “Hôm nay ở trường con có vui không?”. Nếu cháu trả lời chậm, bạn hãy hỏi “Hôm nay cô đã dạy con bài học gì?”. Bạn hãy tạo cho cháu cơ hội tự kể lại những gì cháu đã làm và bạn hãy nhiệt tình lắng nghe. Cháu kể nhiều điều nhỏ nhặt nhưng tất cả những điều đó lại rất quan trọng đối với cháu và với bạn.

• Bạn hãy ghi âm lại những lúc cháu hát hay kể chuyện. Trẻ ngạc nhiên và thích thú khi được thấy và được nghe giọng mình trong băng, “Giọng mình đó sao? Cũng hay đấy chứ!”. Nhiều năm sau, bạn sẽ rất vui khi nhìn lại hình ảnh con mình ở lứa tuổi này. Hãy kể cho cháu nghe một câu chuyện cổ tích mà lúc nhỏ bạn rất thích, hay đưa cho cháu một quyển sách cũ mà hầu hết các trang đều bị quăn góc vì ngày trước bạn đã đọc nhiều lần và đọc lại cho cháu nghe. Đây chính là thời điểm thích hợp để cháu học những từ mới. Nếu cháu đã từng được nghe một câu chuyện nhiều lần, hãy đọc lại cho cháu nghe chuyện đó, cố ý thay đổi các chi tiết quan trọng để xem liệu cháu có phát hiện ra không.

• Bạn hãy yêu cầu cháu kể lại về cuốn sách cháu đã đọc sau bữa ăn tối hay khi gia đình quây quần bên nhau. Hãy gợi ý để con bạn tóm tắt nội dung quyển sách đó. Các thành viên trong gia đình có thể đặt câu hỏi cho cháu và hỏi cháu những gì cháu thích hay không thích về quyển sách đó.

• Nhờ con bạn đọc sách lớn tiếng. Bạn đã đọc sách cho cháu nghe 6 năm nay hay gần như thế. Bây giờ đến phiên cháu. Hãy tìm cho cháu những cuốn sách dễ đọc và không quá dài như vậy cháu sẽ không bị chán.

Dành cho các cháu thiên về thị giác:
• Hãy thu băng video các bài đọc hay chuyện kể của con bạn. Để làm tăng thêm sự thú vị, hãy hóa trang cho cháu thành một nhân vật và đóng lại một cảnh trong câu chuyện đó. Sau khi thu băng lại hãy ngồi xem lại cùng với cháu, để cháu tự nhận xét vai diễn của mình và tán dương khả năng diễn của cháu. Đừng nói đi nói lại về một lỗi nhỏ hay một câu nói vấp của cháu. Hoạt động này sẽ giúp cháu cảm thấy thoải mái và tự nhiên hơn khi đứng trước đám đông nhưng bạn đừng nên soạn sẵn cho cháu những lời cháu phải nói trước mọi người vì như vậy trẻ sẽ không tự nhiên và phản ứng của cháu không được sắc bén.

• Khuyến khích cháu mô tả lại một băng video hay một chương trình tivi mà cháu đã xem. Ví dụ như chương trình “Vườn cổ tích” – một chương trình rất được trẻ em yêu thích. Hãy để con bạn nói xem câu chuyện ấy nói về điều gì. Cháu đã đủ lớn để có thể tập trung không chỉ vào các tình tiết truyện mà còn vào các mâu thuẫn xảy ra trong chuyện. Ví dụ, hãy hỏi cháu xem tại sao nhân vật chính lại bị điên hay buồn bã, và lắng nghe ý kiến của cháu.

Dành cho các cháu thiên về thế giới tự nhiên:
• Đưa cháu đi dạo để ngắm cảnh thiên nhiên, tổ chức những chuyến đi biển hay đi dã ngoại. Bạn nên mang theo một cái hộp để có thể thu nhặt một kho báu riêng cho con bạn như vỏ sò, những hòn đá, những chiếc lá đủ màu … Khi trở về nhà, hãy để cháu kể lại từng điều một cho cả gia đình nghe như màu sắc, hình dạng, kích thước, chức năng của từng đồ vật và cháu đã tìm thấy nó ở đâu. Gợi ý cho trẻ thực hiện một bộ sưu tập về thiên nhiên.

• Tổ chức diễn kịch gia đình. Bạn có thể cùng với mọi người trong nhà viết một vở kịch ngắn – thực tế hoặc hư cấu – để cả gia đình cùng diễn. Hãy để con bạn làm đạo diễn hay người hướng dẫn. Bạn có thể ghi âm hay quay video buổi diễn.

• Hãy đọc chính tả cho cháu viết. Đầu tiên, yêu cầu trẻ kể một câu chuyện ngắn mà trẻ tâm đắc nhất, nếu cháu bỏ sót những chi tiết quan trọng, hãy nói rằng bạn không hiểu và đề nghị cháu kể rõ hơn. Sau đó cho bé viết tóm tắt và vẽ lại các bức tranh minh họa cho câu chuyện và dùng chúng để làm thành một quyển sách .

 

Giai đoạn: 0 – 5 tháng tuổi:

- Trẻ chăm chú nhìn vào người nói chuyện

- Quay đầu về phía có tiếng động phát ra

- Phân biệt được các tiếng động khác nhau phát ra từ các vị trí khác nhau

- Phát ra các âm thanh khi được hỏi chuyện. Có thể đáp lại các âm thanh khi được hỏi: mỉm cười

- Tự chơi một mình với các âm thanh 

Và tùy theo mỗi trẻ nhưng khi được khoảng mười một tháng hay một tuổi trẻ nói được khoảng hai ba từ đơn khá rõ, có thể là: bố, bà. Thông thường các trẻ thường bắt đầu bằng các âm phát ra bằng âm đầu môi như các p, m, k. Và thông thường ở trẻ em gái độ tuổi nói thường xuất hiện sớm hơn khoảng khi trẻ được tầm trẻ được tám chín tháng tuổi. Còn ở trẻ em trai thường nói chậm hơn trung bình trẻ nói được từ đầu tiên khi trẻ được khoảng một tuổi thậm chí khi trẻ được mười ba, mười bốn tháng tuổi mới bập bập bẹ nói ê a các âm không rõ. Các từ đầu tiên trẻ nói được thường là các từ thường có liên quan đến người, đồ vật hoặc sự kiện xung quanh liên quan đến trẻ hoặc các nhu cầu bản thân của trẻ ví dụ: gọi bố, mẹ; ạ, dạ, xin; ô tô, bíp bíp hoặc tiếng kêu các con vật: meo meo, con chó, con mèo, gà. Tùy vào bản thân mỗi trẻ cũng như tùy vào môi trường, vùng văn hóa mà trẻ sống mà trẻ phát âm ra các từ đầu tiên có khác nhau ở các trẻ khác nhau.

 

Giai đoạn 6 – 11 tháng:

- Biết phối hợp các hoạt động

- Theo dõi sự chuyển động của các vật theo các hướng khác nhau

- Hiểu một vài từ - Nối kết các âm thanh để tạo nên vần

- Bắt chước gần đúng âm của người khác

- Dùng cử chỉ, điệu bộ nét mặt để giao tiếp

- Tạo ra được một vài âm gần giống với các phụ âm

Khi trẻ được 18 tháng tuổi trẻ bắt đầu nói và tự nối ghép được hai từ với nhau. Ở giai đoạn này trẻ nói bắt đầu hình thành các trật tự câu. Trẻ biết chỉ được ít nhất là sáu bộ phận trên cơ thể, chỉ được một hai hình ảnh quen thuộc khi cho trẻ nhìn tranh như: hình bố,hình con cá hoặc hình con chó…

 

Giai đoạn từ 1 – 1,5 tuổi

- Thực hiện các mệnh lệnh đơn giản: “ném bóng cho mẹ, cầm cốc cho bố”…

- Phân biệt được các đồ vật thường dùng

- Nhận ra được một số bức tranh về các đồ vật ở xung quanh. Ví dụ: tranh về cái cốc, bàn

- Nói một vài từ

- Biết khởi xướng các trò chơi

- Tạo ra chuỗi âm không có nghĩa với các ngữ điệu khác nhau

- Có khả năng bắt chước được từ đơn

Đến 3 tuổi trẻ tạo ra một cụm từ có đầy đủ thành phần chủ vị. Sau giai đoạn này trẻ sẽ nói được và sẽ tạo đà cho trẻ phát triển được rất nhiều các câu phức tạp và tiếp sau đó là trẻ hình thành nên các câu chuyện dài với nội dung khá logic.

 

Giai đoạn 2 – 3 tuổi

- Trẻ hiểu các khái niệm về vị trí trong không gian: phái trước, bên phải, bên ngoài, hiểu một vài chức năng công dụng của đồ vật và các bộ phận của cơ thể như: cốc để uống nước, lược để chải đầu, hay mũi để ngửi, miệng để ăn…

- Hiểu một vài đại từ, hiểu các từ mô tả: to/bé, ướt/khô

- Trẻ bắt đầu hiểu về khái niệm số lượng, quan hệ bộ phận, tổng thể. Trẻ hiểu các hành động trong tranh: đang tắm, đang ăn, các đại từ: cô bé,em bé, cậu bé

- Trẻ biết sử dụng các câu đơn giản, đặt câu hỏi đơn giản

- Trẻ trả lời được các câu hỏi như: cái gì, ở đâu? Có/ không.

- Tre nói được các câu đơn giản: có chủ, vị, và bắt đầu dùng từ sở hữu: của con…

Đến giai đoạn trẻ được 3,5 tuổi -  4, 5, 6 tuổi không những trẻ nói được các câu phức tạp  trẻ bắt đầu sử dụng các ngôn ngữ ấy một cách khá tốt. Trẻ phân biệt và hiểu được các câu với nghĩa khá đa dạng và phức tạp trái nghĩa nhau và chúng có thể biết phát triển và duy trì được hội thoại khá dài.

Trên đây là phần tóm tắt các mốc giai đoạn phát triển về ngôn ngữ cơ bản của trẻ từ khi ra đời đến khi trẻ được 3 tuổi và tiến trình phát triển tiếp sau cho đến khi trẻ đi học lớp một.

 

Các dấu hiệu chậm nói

Dựa vào các đặc điểm trên cha mẹ có thể phân biệt và tự kiểm tra xem con mình có bị chậm nói hay không, chậm nhiều hay ít so với lứa tuổi. Và đặc biệt cần lưu ý các bậc cha mẹ là đối với các con ngôn ngữ hiểu và ngôn ngữ hạn chế phải có sự phát triển song hành chúng có mối quan hệ khăng khít. Nếu con bạn có những điều bất thường (không giống) hoặc có khó khăn một trong hai vấn đề (ngôn ngữ hiểu hoặc ngôn ngữ thể hiện – nói) bị chậm hoặc bị mất ngôn ngữ… cha mẹ nên cho con đi khám sớm về:

1. Khám thực thể (khám tai – chức năng nghe, Mắt – chức năng nhìn, Miệng – cơ quan phát âm) để phát hiện sớm các khó khăn cần loại bỏ và giúp đỡ

2. Khám tâm lý để phát hiện sớm trẻ chậm nói hoặc có vấn đề về  phát triển  tâm trí và kịp thời có hướng can thiệp giúp trẻ.

Rất nhiều các cha mẹ và những người xung quanh có sự hiểu nhầm về các bệnh thường gặp ở con trẻ như: Trẻ tự kỷ, trẻ chậm phát triển trí tuệ (chậm nhận thức), trẻ chậm nói, trẻ có vấn đề về tăng động giảm chú ý cũng có một số biểu hiện giống tương tự như: không giao tiếp bằng ngôn ngữ hoặc giao tiếp ít, chạy nhảy nhiều, không tập trung, thích xem hoạt hình, quảng cáo… Đặc biệt nhiều bậc cha mẹ đã ở trong tình trạng tâm lý khá hoang mang, lo lắng tự ám thị minh cho rằng con mình bị tự kỷ.

Nếu để trẻ tự phát triển trong khi ngôn ngữ của trẻ có các khó khăn thì trẻ sẽ có khó khăn về mặt phát triển tâm lí như: chậm nhận thức hơn so với bạn cùng lứa, khó khăn trong diễn đạt ngôn ngữ - dẫn đến trẻ có tâm lý mặc cảm tự ti, không phát triển được các mối quan hệ trong giao tiếp, bị bạn bè trêu chọc, đánh mắng, bị cô lập, ám sợ đám đông, ám sợ trường học... Vì thế trẻ có thể biểu hiện ra ngoài như: ít giao tiếp, nhút nhát tự ti, chơi một mình hay có trẻ lại mất tập trung chạy nhảy quá mức không chịu phản ứng hồi đáp bằng ngôn ngữ với người khác, nghịch ngợm, hay cáu gắt, đánh bạn hoặc nói ra một tràng các âm không có nghĩa, nhắc lại lời của người khác một cách nguyên vẹn…, và các rối loạn ngôn ngữ thể hiện khác nhau hoặc có khó khăn khác về mặt tâm lý có thể gặp trong từng hoàn cảnh và giai đoạn khác nhau.

 

NTL Đặng Thị Thanh Tùng

 Tạo điều kiện cho trẻ bắt trước tiếng nói của người lớn
Trẻ học nói bằng cách bắt chước tiếng nói của những người xung quanh Vì vậy các bậc cha mẹ cần chú ý cho trẻ được nghe người lớn nói nhiều. Khi nói cần sử dụng từ đúng, cố gắng dùng các từ giàu hình ảnh, âm thanh. Ví dụ: " Con nhìn kìa, nước trong vắt" hay "Chim hót líu lo" . Tránh nói ngọng, nói nhanh quá đề trẻ nghe rõ, phát âm chính xác, giọng diễn cảm. Nhẹ nhàng âu yếm khi nói với trẻ, không nói những lời thô tục, cộc lốc, tránh nói trồng không.
Không cãi nhau không nói tục trước mặt trẻ. Bạn nên nhớ rằng trẻ sẽ bắt trước một cách vô thức tất cả những lời nói của người lớn.
Nên cho trẻ xem tivi, video, nghe radio, băng catsette... những chương trình có nội dung phù hợp, có giọng nói hay, diễn cảm. Ngay cả khi trẻ chơi, ta cũng có thể mở băng (kể chuyện, đọc thơ...) cho trẻ nghe. Dù rằng trẻ không chú ý, giọng nói vẫn tác động một cách vô thức đến trẻ làm cho trẻ nhập tâm.

Làm cho cuộc sống của trẻ phong phú, giàu cảm xúc, ấn tượng
Trẻ học nói trong quá trình tiếp xúc với mọi người, với các đồ dùng, đồ chơi, con vật, cậy cối, thiên nhiên... xung quanh. Trẻ giao tiếp nhiều, môi trường sống mở rộng thì càng biết nhiều từ, biết cách diễn đạt tên gọi và mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng xung quanh trẻ.
Đồng thời trẻ được giao tiếp với nhiều người, đi nhiều nơi, xem nhiều thứ thì cuộc sống sẽ khơi gợi, kích thích nhu cầu giao tiếp ở trẻ. Trẻ sẽ nói, sẽ kể những điều trẻ nghe thấy cho người khác, cho bạn bè nghe. Ngôn ngữ của trẻ sẽ được rèn luyện, trẻ có điều kiện dùng các từ mới, giọng diễn cảm với các cấu trúc ngữ pháp và cử chỉ, điệu bộ phù hợp.
Tập cho trẻ biết lắng nghe các âm thanh khác nhau của cuộc sống như: tiếng chim hót, tiếng nước chảy, tiếng mưa, gió thổi, tiếng xe chạy, tiếng máy bay, tiếng người rao bán hàng, tiếng hò... Sau đó, yêu cầu trẻ nói cho bạn biết trẻ đã nghe thấy cái gì, tiếng gì.
Các bậc cha mẹ nên dành thời gian nhất định để đưa trẻ đi chơi hằng tuần.

Đọc sách, kể chuyện, đọc thơ, ca dao, hát cho trẻ nghe
Hằng ngày, nhất thiết các bậc cha mẹ nên dành thời gian để đọc sách, xem tranh cùng trẻ. Nói chuyện với trẻ về câu chuyện, về bức tranh. Bạn có thể kể chuyện, hát ru, đọc thơ, ca dao, đồng dao cho trẻ nghe trước khi trẻ ngủ. Việc duy trì thói quen này có lợi rất nhiều đối với trẻ. Không chỉ ngôn ngữ của trẻ phát triển mà còn tạo điều kiện cho tình cảm gia đình thêm gắn bó, thân thiết, giúp trẻ cảm nhận được cái hay, cái đẹp của tiếng mẹ đẻ, nuôi dưỡng tình cảm trong sáng của tâm hồn trẻ thơ.